

Những nhà máy bán hàng cho khách hàng từ hàng tồn kho được hiểu theo kiểu make-to-stock (MTS). Từ make-to-stock có nghĩa là sản xuất (make) ra sản phẩm rồi mới đưa vào kho (stock) để bán ra từ từ.
Nhà máy lắp ráp một số mục (option) với những những yêu cầu đặc tả của khách hàng là kiểu assemble-to-order (ATO), ví dụ như hãng máy tính Dell chuyên lắp ráp máy tính. Từ assemble-to-order có nghĩa là lắp ráp theo đơn đặt hàng của khách.
Nhà máy sản xuất từ nguyên vật liệu thô, linh kiện, bộ phận rời (component) thường được gọi make-to-order (MTO), nghĩa là sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu và đặc tả cụ thể của khách hàng.
Nhà máy làm việc với khách hàng để thiết kế sản phẩm, sau đó sản xuất ra sản phẩm từ nguyên vật liệu mua về, từ các phụ tùng hoặc các cấu kiện thì gọi là engineer-to-order (ETO).
Đa số các công ty ở Việt Nam là công ty gia công nên thường là mô hình MTO, một số công ty kết hợp thêm mô hình MTS hay ETO hoặc ATO. Rất ít và hiếm có công ty nào hoạt động tất cả các mô hình ở trên.



